Quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ - www.dhsptn.edu.vn

Quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

Đăng lúc: Thứ ba - 22/09/2015 16:25 - Tác giả bài viết: Hanalan
Theo Quyết định số 1838/QĐ-ĐHSP, ngày 20 tháng 6 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm: Quy định đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ

Chương 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định những nội dung liên quan đến nhiệm vụ quản lý đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp.

2. Quy định này áp dụng đối với sinh viên hệ chính quy ở trình độ đại học, cao đẳng được đào tạo theo hình thức tích luỹ tín chỉ tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên.

Điều 2. Chương trình đào tạo, đề cương chi tiết học phần

1. Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình.

2. Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

3. Đề cương chi tiết của từng học phần phải thể hiện rõ số lượng tín chỉ, điều kiện tiên quyết (nếu có), mục tiêu, thông tin giảng viên, nội dung lý thuyết và thực hành, cách thức đánh giá học phần, giáo trình, tài liệu tham khảo và điều kiện thí nghiệm, thực hành, thực tập phục vụ học phần.

4. Hiệu trưởng ban hành chương trình đào tạo với khối lượng của mỗi chương trình đào tạo tối đa là 134 tín chỉ, chương trình chất lượng cao có khối lượng 145 tín chỉ đối với khoá đại học 4 năm.

Điều 3. Học phần và Tín chỉ

  1. Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập. Học phần chủ yếu có khối lượng kiến thức từ 2 đến 5 tín chỉ,  được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ. Kiến thức trong mỗi học phần phải gắn với một mức trình độ theo năm học thiết kế và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học. Mỗi học phần được ký hiệu bằng một mã số riêng thực hiện theo quy định hướng dẫn mã môn học của Đại học Thái Nguyên.

2. Trong chương trình đào tạo có hai loại học phần: học phần bắt buộc và học phần tự chọn.

a. Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích lũy;

b. Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được lựa chọn theo hai hình thức. Tự chọn bắt buộc: sinh viên được chọn một số học phần (hoặc nhóm học phần) trong khối kiến thức mà khoa xác định trước trong chương trình nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn của ngành đào tạo; Tự chọn tự do trong các chương trình mà nhà trường có tổ chức đào tạo để tích luỹ đủ số tín chỉ quy định cho mỗi chương trình.

3.     Một số khái niệm liên quan đến học phần

a. Học phần tiên quyết: Học phần A gọi là học phần tiên quyết của học phần B  nếu sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký học và đã có điểm học phần A từ điểm D trở lên.

b. Học phần học trước: Học phần A gọi là học phần học trước của học phần B nghĩa là sinh viên đã học xong học phần A (có thể thi kết thúc học phần A nhưng điểm học phần chưa đạt) mới được đăng ký học học phần B. 

c. Học phần song hành: học phần song hành với học phần A là học phần sinh viên bắt buộc phải đăng ký học đồng thời với học phần A.

d. Học phần đặc biệt: là những nội dung đào tạo không quy định số tín chỉ, nhưng sinh viên bắt buộc phải học và nếu đạt yêu cầu được cấp chứng chỉ. Các chứng chỉ là điều kiện cần để công nhận tốt nghiệp. Có hai học phần đặc biệt là Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất.

e. Học phần tương đương, học phần thay thế: là những học phần thuộc một chương trình đào tạo của Trường, do sự thay đổi chương trình hoặc do thực tế công tác tổ chức đào tạo có những học phần không tiếp tục tổ chức đào tạo được thay thế bởi một học phần khác tương đương với nó. Việc sử dụng học phần tương đương, học phần thay thế do trưởng khoa quản lý ngành đào tạo đề xuất, phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định.

4. Tín chỉ là đơn vị được sử dụng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; 30 - 45 tiết thực hành, thí nghiệm hoặc thảo luận; 45 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn hoặc đồ án, khoá luận tốt nghiệp; 60 giờ thực tập tại cơ sở. Số tín chỉ cụ thể của mỗi học phần được quy định trong chương trình và được thông báo cho sinh viên trong đề cương môn học. Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, để tiếp thu được một tín chỉ, sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ chuẩn bị cá nhân.

5. Một tiết học được tính bằng 50 phút.    

6. Tín chỉ học phí:là đơn vị dùng để lượng hoá chi phí cho hoạt động giảng dạy, học tập 1 tín chỉ.  Tín chỉ học phí được xác định cho những học phần sinh viên tự nguyện đăng kí học tập không có ngân sách Nhà nước (hoặc đối với tất cả nội dung đào tạo trong trường hợp Nhà nước không áp dụng chế độ miễn học phí đối với sinh viên sư phạm). Tín chỉ học phí do Hiệu trưởng quy định phù hợp với thực tế từng học phần, từng năm học và quy định học phí của Nhà nước.

Điều 4. Thời gian hoạt động dạy – học

1. Thời gian hoạt động dạy - học của Trường như sau:

Buổi

Tiết

Mùa hè

Mùa đông

Nghỉ giữa giờ

Sáng

1

06:30 – 07:20

06:45 – 07:35

5 phút

2

07:25 – 08:15

07:40 – 08:30

5 phút

3

08:20 – 09:10

08:35 – 09:25

10 phút

4

09:20 – 10:10

09:35 – 10:25

5 phút

5

10:15 – 11:05

10:30 – 11:20

5 phút

6

11:10 – 12:00

11:25 – 12:15

Nghỉ trưa

Chiều

7

13:30 – 14:20

13:00 – 13:50

5 phút

8

14:25 – 15:15

13:55 – 14:45

5 phút

9

15:20 – 16:10

14:50 – 15:40

10 phút

10

16:20 – 17:10

15:50 – 16:40

5 phút

11

17:15 – 18:05

16:45 – 17:35

5 phút

12

18:10 – 19:00

17:40 – 18:30

5 phút

13

19:05 – 19:55

18:35 – 19:25

5 phút

14

20:00 – 20:50

19:30 – 20:20

 

(Mùa hè: từ 15/4 đến 14/10; Mùa đông: từ 15/10 đến 14/4).

2. Tuỳ theo số lượng sinh viên, số lớp học cần tổ chức và điều kiện cơ sở vật chất của Trường, Phòng Đào tạo phối hợp với các đơn vị sắp xếp thời khóa biểu cho các lớp theo từng học kỳ.

Điều 5. Đánh giá kết quả học tập

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

1. Số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký học vào đầu mỗi học kỳ (gọi tắt là khối lượng học tập đăng ký).

2. Điểm trung bình chung học kỳ là điểm trung bình có trọng số của các học phần mà sinh viên đăng ký học trong học kỳ đó, với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần.

3. Khối lượng kiến thức tích lũy là khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của những học phần đã được đánh giá theo thang điểm chữ A, B, C, D tính từ đầu khóa học.

4. Điểm trung bình chung tích lũy là điểm trung bình của các học phần và được đánh giá bằng các điểm chữ A, B, C, D mà sinh viên đã tích lũy được, tính từ đầu khóa học cho tới thời điểm được xem xét vào lúc kết thúc mỗi học kỳ.

Chương 2

TỔ CHỨC ĐÀO TẠO

Điều 6. Thời gian và kế hoạch đào tạo

1. Khoá học là thời gian thiết kế để sinh viên hoàn thành một chương trình cụ thể. Thời gian cho phép để sinh viên hoàn thành khóa học được quy định như sau:

TT

Chương trình đào tạo

Thời gian thiết kế

Thời gian tối đa

1

 Cao đẳng

3 năm

5 năm

2

 Liên thông Cao đẳng - ĐH

2 năm

3 năm

3

 Liên thông Trung cấp - ĐH

3 năm

5 năm

4

 Đại học

4 năm

6 năm

2. Các đối tượng được hưởng chính sách ưu tiên theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy không bị hạn chế về thời gian tối đa để hoàn thành chương trình.

3. Các học kỳ được phép tạm dừng học và các học kỳ học ở các trường đại học khác trước khi chuyển về trường (nếu có) đều được tính chung vào thời gian học của khóa học được quy định ở trên.

4. Một năm học có hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 15 tuần thực học và ít nhất 3 tuần thi. Ngoài hai học kỳ chính, Hiệu trưởng có thể xem xét quyết định tổ chức thêm một học kỳ phụ với ít nhất 5 tuần thực học và ít nhất 1 tuần thi để sinh viên có điều kiện được học lại; học cải thiện điểm hoặc học vượt. Sinh viên đăng ký tham gia học kỳ phụ trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc.

5. Lập kế hoạch đào tạo

a. Phòng Đào tạo căn cứ vào nhiệm vụ của năm học mới để lập Sơ đồ kế hoạch, thông qua Hội đồng Đào tạo trường, trình Hiệu trưởng phê duyệt.

b. Lập kế hoạch dự kiến: Phòng đào tạo căn cứ chương trình khung và kế hoạch đào tạo của từng đơn vị quản lý chương trình đào tạo; điều kiện giảngdạy; quy mô sinh viên để lập kế hoạch đào tạo dự kiến. Kế hoạch đào tạo dựkiến gồm các thông tin: tên và thời lượng các học phần dự kiến mở, họ và tên các giảng viên đảm nhiệm học phần (do đơn vị quản lý nội dung cung cấp); số lượng sinh viên của từng lớp; địa điểm phòng học; tiết học, buổi học... Kế hoạch đào tạo dự kiến được chuyển cho các đơn vị quản lý nội dung đào tạo.

c. Bổ sung kế hoạch dự kiến: Các đơn vị quản lý nội dung đào tạo xem xét, bổ sung và gửi kế hoạch đã được điều chỉnh cho Phòng Đào tạo.

d. Thông báo kế hoạch đào tạo cho sinh viên: Phòng Đào tạo kiểm tra ý kiến bổ sung của các đơn vị để hoàn chỉnh kế hoạch đào tạo, thông báo cho sinh viên đăng ký khối lượng học tập (đăng ký chính thức).

e. Ban hành kế hoạch đào tạo chính thức: Sau khi có kết quả đăng ký của sinh viên, Phòng Đào tạo điều chỉnh kế hoạch đào tạo (bổ sung hoặc huỷ lớp học phần) để trình Hiệu trưởng ban hành kế hoạch đào tạo chính thức.

6. Thời gian lập kế hoạch đào tạo

a. Đầu học kỳ 2 của năm học phải lập sơ đồ kế hoạch đào tạo cho năm học sau.

b. Kế hoạch đào tạo của từng học kỳ của năm học được thực hiện theo thời gian sau:


7. Kế hoạch đào tạo có thể điều chỉnh trong quá trình thực hiện. Phòng Đào tạo tập hợp các nội dung cần điều chỉnh, trình Hiệu trưởng phê duyệt; các đơn vị không được tự ý thay đổi kế hoạch đào tạo.c. Kế hoạch học kỳ phụ do Phòng Đào tạo phối hợp với các đơn vị xây dựng căn cứ theo nhu cầu đăng ký học của sinh viên, trình Hiệu trưởng phê duyệt vào đầu mỗi học kỳ phụ.

Điều 7. Cố vấn học tập

1. Cố vấn học tập là một nhiệm vụ kiêm nhiệm của giảng viên đại học.  Mỗi chương trình đào tạo của một khoá học có ít nhất 01 cố vấn học tập. Danh sách cố vấn học tập do khoa quản lý chương trình đào tạo đề nghị, Phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng quyết định. 

2. Cố vấn học tập được bố trí ổn định và theo sát giúp đỡ sinh viên trong cả khoá học. Trong trường hợp đặc biệt phải thay đổi, cố vấn học tập được miễn nhiệm có trách nhiệm bàn giao đầy đủ thông tin liên quan về tình hình sinh viên do mình quản lý cho cố vấn học tập mới.

3. Cố vấn học tập được Trưởng khoa quản lý ngành lựa chọn và phân công trong số giảng viên của khoa có trình độ chuyên môn vững vàng, có phẩm chất đạo đức và nghiệp vụ giao tiếp, am hiểu nội dung, chương trình đào tạo và nắm vững quy chế đào tạo. Cố vấn học tập được cung cấp đầy đủ tài liệu, thông tin cần thiết liên quan đến nhiệm vụ, được tạo điều kiện và phương tiện làm việc, tiếp xúc với sinh viên tại văn phòng các khoa.

4. Cố vấn học tập có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo Quy định của cố vấn học tập (có văn bản riêng). Nhiệm vụ của cố vấn học tập kết thúc và có thể được phân công đảm nhiệm cố vấn khoá học mới khi cơ bản số sinh viên khoá cũ đã tốt nghiệp.

Điều 8. Đăng ký nhập học và sắp xếp sinh viên vào các chương trình đào tạo

1. Khi đăng ký nhập học vào Trường sinh viên phải nộp các giấy tờ theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Sinh viên không được tự ý thay đổi ngành nhập học so với ngành đã trúng tuyển. Tất cả các giấy tờ khi nhập học, sinh viên phải xếp vào túi hồ sơ của từng cá nhân doPhòng Công tác học sinh - sinh viên quản lý.

2. Chậm nhất sau 30 ngày kể từ thời gian nhập học theo quyết định và kế hoạch tuyển sinh của khoá học, Phòng Công tác học sinh - sinh viên kiểm tra điều kiện nhập học, trình Hiệu trưởng kí quyết định công nhận danh sách sinh viên chính thức của Trường theo khoá học, ngành học, chương trình đào tạo và gửi cho Phòng Đào tạo quyết định kèm theo danh sách sinh viên với đầy đủ thông tin trong hồ sơ. Phòng Công tác học sinh - sinh viên nhập các dữ liệu về hồ sơ sinh viên vào hệ thống quản lý của Trường trong phần mềm quản lý đào tạo.

3. Sau khi xem xét thấy đủ điều kiện nhập học, Phòng Công tác học sinh - sinh viên trình Hiệu trưởng cấp cho sinh viên: Thẻ sinh viên và các tài liệu liên quan khác theo quy định của Trường. Phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng cấp cho sinh viên Niên giám khóa học.

4. Mọi thủ tục đăng ký nhập học phải được hoàn thành trong thời hạn theo quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy hiện hành.

5. Sinh viên nhập học được Trường cung cấp các thông tin về mục tiêu, nội dung và kế hoạch học tập của các chương trình, quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh viên.

6. Đối với các ngành có nhiều chương trình đào tạo (chuyên ngành), đầu khoá học Trường sẽ công bố công khai chỉ tiêu đào tạo cho từng chương trình. Việc sắp xếp sinh viên vào các chương trình đào tạo được thực hiện theo một trong 2 phương thức sau:

a. Đầu khoá học, căn cứ vào đăng ký chọn chương trình đào tạo, điểm thi tuyển sinh, Trường sắp xếp sinh viên vào các chương trình đào tạo. Mỗi sinh viên được đăng ký một nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên. Hiệu trưởng quy định chỉ tiêu và tiêu chí cụ thể đối với từng chương trình đào tạo để sinh viên đăng ký.

b. Sau khi học từ 2 đến 4 học kỳ, căn cứ vào đăng ký nguyện vọng và kết quả học tập của sinh viên để sắp xếp sinh viên vào các chương trình đào tạo.

Điều 9. Tổ chức lớp

1. Lớp sinh viên: Lớp sinh viên được tổ chức theo khoá học, ngành học. Tuỳ theo số lượng sinh viên cụ thể, mỗi khoá học, ngành học có thể có một hay nhiều lớp sinh viên. Lớp sinh viên duy trì ổn định trong cả khoá đào tạo, có tên lớp và hệ thống tổ chức lớp, đoàn thể được quy định cụ thể trong Quy chế công tác học sinh - sinh viên.

2.  Lớp học phần (lớp môn học): Là lớp học được tổ chức theo từng học phần dựa vào đăng ký khối lượng học tập của sinh viên ở từng học kỳ. Mỗi lớp học phần có thời khoá biểu, lịch thi và có mã số lớp học riêng. Mỗi lớp học phần có một lớp trưởng do giảng viên phụ trách môn học chỉ định.Lớp trưởng lớp học phần có nhiệm vụ theo dõi số sinh viên đi học, ghi chép phiếu (sổ) theo dõi giảng dạy và học tập, xin chữ ký của giáo viên giảng dạy; nộp danh sách sinh viên và phiếu (sổ) theo dõi cho trợ lý đào tạo của khoa quản lý nội dung đào tạo ngay sau khi kết thúc thời gian học của học phần .

3. Số lượng tối thiểu để Trường mở lớp học phần trong học kỳ chính đối với các học phần là 40 sinh viên đăng ký; Các học phần ngoại ngữ, chuyên ngành nghệ thuật, có số sinh viên tối thiểu là 20 và các học phần thực hành, thí nghiệm có số sinh viên tối thiểu là 10; Đối với các lớp học lại, học cải thiện và những trường hợp đặc biệt, số lượng sinh viên lớp học phần do Phòng Đào tạo đề nghị Hiệu trưởng xem xét và quyết định.

4. Nếu số lượng sinh viên đăng ký thấp hơn số lượng tối thiểu quy định thì lớp học phần sẽ không được tổ chức và sinh viên phải đăng ký chuyển sang học những học phần khác mà trường có tổ chức cho đủ khối lượng kiến thức (số tín chỉ) tối thiểu quy định trong học kỳ.

5. Số sinh viên tối đa cho mỗi lớp học phần phụ thuộc vào đặc thù ngành học và học phần, được quy định như sau:

a. Lớp lý thuyết: không quá 120 sinh viên đối với đa số các học phần; không quá 60 sinh viên đối với học phần ngoại ngữ. Những phòng học lớn và những môn học có tính đặc thù có thể xếp trên 120 sinh viên, nhưng phải có giáo viên trợ giảng và trang thiết bị đảm bảo cho việc dạy và học;

b. Lớp(nhóm)  thảo luận: không quá 60 sinh viên;

c. Lớp thí nghiệm: không quá 20 sinh viên;

d. Lớp thực hành: không quá 50 sinh viên.

6. Danh sách sinh viên lớp học phần do Phòng Đào tạo kiểm soát, khoa quản lý nội dung đào tạo in vào đầu học kỳ để giao cho giảng viên (danh sách chính thức sẽ có vào đầu tuần thứ 4 của học kỳ chính và đầu tuần thứ 3 của học kỳ phụ). Giảng viên có trách nhiệm thường xuyên điểm danh; sinh viên không có tên trong danh sách lớp học phần không được vào lớp học; Giảng viên không được thay đổi danh sách sinh viên lớp học phần.

Điều 10. Đăng ký khối lượng học tập

1. Đầu khóa học và đầu mỗi năm học phòng Đào tạo thông báo lịch học dự kiến cho từng chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần bắt buộc và tự chọn dự kiến sẽ tổ chức giảng dạy, đề cương chi tiết, điều kiện ràng buộc để được đăng ký học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi đối với các học phần. Toàn bộ thông tin sẽ được cung cấp cho sinh viên qua niên giám khóa học và website của Trường. Một số thông tin cụ thể, đặc biệt sẽ được thông báo trên bảng tin ở văn phòng các khoa hoặc qua tài khoản cá nhân của sinh viên trong phần mềm quản lý đào tạo.

2. Trong học kỳ đầu khi mới nhập học, sinh viên học ở những lớp học phần theo thời khóa biểu do Phòng Đào tạo ấn định nhưng sinh viên phải đăng ký khối lượng học tập ngay sau khi nhập học. Phòng Đào tạo kiểm soát và thông báo kết quả đăng ký cho sinh viên

3. Từ học kỳ thứ hai, tùy theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, mỗi sinh viên tham khảo ý kiến hướng dẫn của cố vấn học tập để đăng ký với Phòng Đào tạo các học phần dự định sẽ học trong học kỳ đó. Sinh viên thực hiện đăng ký học phần tại website của Trường theo lịch do Phòng Đào tạo quy định.

4. Quy trình và thao tác đăng ký học phần được hướng dẫn cụ thể tại địa chỉ: http//:www.daotao.tnu.edu.vn/dhsp. Lịch đăng ký được công bố chậm nhất là 1 tuần trước khi bắt đầu đăng ký.

5. Có 3 hình thức đăng ký các học phần sẽ học trong mỗi học kỳ: đăng ký chính thức, đăng ký điều chỉnh và đăng ký rút bớt học phần.

a. Đăng ký chính thức là hình thức đăng ký được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tháng, kết thúc trước khi bắt đầu học kỳ 1 tháng, đây là hình thức đăng kí bắt buộc đối với tất cả sinh viên.

b. Đăng ký điều chỉnh là hình thức đăng ký được thực hiện 1 tháng trước thời điểm bắt đầu học kỳ, kết thúc trước khi học kỳ bắt đầu 2 tuần. Hình thức này chỉ áp dụng cho những sinh viên muốn điều chỉnh khối lượng học tập (bổ sung, thay thế những học phần bị hủy lớp); các học phần được mở bổ sung cho sinh viên có nhu cầu học lại, học cải thiện điểm cũng được tổ chức đăng ký vào thời gian này.

c. Đăng ký rút bớt học phần là hình thức đăng ký được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ; hình thức này chỉ áp dụng cho những sinh viên muốn rút bớt khối lượng học tập của học kì vì những lý do đặc biệt không thể theo học được.

6. Khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi sinh viên phải đăng ký trong mỗi học kỳ chính được quy định như sau:

a. 14 tín chỉcho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường;

b. 10 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu.

Phòng Đào tạo kiểm soát khối lượng đăng ký tối thiểu trong học kỳ chính của sinh viên và thông báo cho sinh viên trước thời gian đăng ký điều chỉnh.

7. Khối lượng học tập tối đa mà mỗi sinh viên có thể đăng ký trong mỗi học kỳ được quy định như sau:

a. 30 tín chỉ cho mỗi học kỳ chínhđối với sinh viên xếp loại học lực bình thường.

b. 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ chính đối với những sinh viên đang trong thời gian bị xếp loại học lực yếu.

c. Học kì  phụ (nếu có) khối lượng học tập tối đa sinh viên được đăng kí là 8 tín chỉ.

8. Việc đăng ký các học phần sẽ học cho từng học kỳ phải bảo đảm điều kiện ràng buộc của từng học phần và trình tự học tập của mỗi chương trình cụ thể.

9. Khối lượng đăng ký học tập của sinh viên theo từng học kỳ phải được sinh viên in từ phần mềm đăng ký học (trong mục in kết quả đăng ký học) vào tuần thứ 4 của học kỳ chính và tuần thứ 3 của học kỳ phụ, có xác nhận của cố vấn học tập, sinh viên lưu trữ làm tài liệu cá nhân.

Điều 11. Rút bớt học phần đã đăng ký

1. Việc rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký chỉ được chấp nhận trong 2 tuần đầu học kỳ chính và được quyết định không muộn quá 3 tuần; trong 1 tuần đầu học kỳ phụ và được quyết định không muộn quá 2 tuần. Ngoài thời hạn trên, học phần vẫn được giữ nguyên trong kết quả đăng ký học của sinh viên, nếu sinh viên không đi học sẽ được xem như tự ý bỏ học và phải nhận điểm F.

2. Điều kiện rút bớt các học phần đã đăng ký:

a. Sinh viên phải tự viết đơn xin ý kiến chấp thuận của cố vấn học tập, cố vấn học tập lập danh sách gửi Phòng Đào tạo;

b. Không vi phạm khoản 6, Điều 10 của Quy định này;

c. Sinh viên chỉ được phép bỏ lớp đối với học phần xin rút bớt khi được huỷ kết quả đăng ký trên tài khoản cá nhân.

3. Đối với các lớp học phần nếu số sinh viên xin rút mà vi phạm Khoản 3 Điều 9; các lớp học phần thực hành, thí nghiệm sinh viên không được rút bớt học phần khi đã bắt đầu học kỳ.

Điều 12. Đăng ký học lại

1. Sinh viên có học phần bắt buộc bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó ở một trong các học kỳ tiếp theo cho đến khi đạt điểm A, B, C hoặc D.

2. Sinh viên có học phần tự chọn bị điểm F phải đăng ký học lại học phần đó hoặc học đổi sang học phần tự chọn tương đương khác. Sinh viên không nhất thiết phải học lại học phần tự chọn chưa đạt nếu đã tích lũy đủ số tín chỉ của nhóm tương ứng.

3. Đối với học phần bất kỳ đã có kết quả đạt, sinh viên được phép đăng ký học lại để cải thiện điểm. Điểm của tất cả các lần học được ghi trong bảng điểm các học kỳ. Kết quả cao nhất trong các lần học sẽ được chọn để tính vào điểm trung bình chung tích lũy.

Điều 13. Nghỉ ốm

Sinh viên xin nghỉ ốm trong quá trình học hoặc trong đợt thi, phải có đơn xin phép gửi trưởng khoa quản lý ngành đào tạo trong vòng một tuần kể từ ngày ốm, kèm theo giấy chứng nhận của Trạm y tế Trường hoặc các cơ sở y tế có thẩm quyền

Điều 14. Xếp hạng năm đào tạo và học lực

1. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào khối lượng kiến thức tích lũy, sinh viên được xếp hạng năm đào tạo như sau:

 

Xếp hạng năm đào tạo

Khối lượng kiến thức tích lũy

Chương trình chuẩn

Chương trình chất lượng cao

 a. Năm thứ nhất

 Dưới 34 tín chỉ;

 Dưới 36 tín chỉ;

 b. Năm thứ hai

 Từ 34 tín chỉ đến 66 tín chỉ

 Từ 37 tín chỉ đến 72 tín chỉ;

 c. Năm thứ ba

 Từ 67 tín chỉ đến 99 tín chỉ

 Từ 73 tín chỉ đến 108 tín chỉ;

 d. Năm thứ tư

 Từ 100 tín chỉ trở lên

 Từ 109 tín chỉ trở lên

2. Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a. Hạng bình thường: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt từ 2,00 trở lên.

b. Hạng yếu: Nếu điểm trung bình chung tích lũy đạt dưới 2,00 nhưng chưa rơi vào trường hợp bị buộc thôi học.

3. Kết quả học tập trong học kỳ phụ được gộp vào kết quả học tập trong học kỳ chính ngay trước đóđể xếp hạng sinh viên về học lực.

Điều 15. Nghỉ học tạm thời

1. Sinh viên được quyền viết đơn xin nghỉ học tạm thời và bảo lưu kết quả đã học trong các trường hợp sau:

a. Được điều động vào các lực lượng vũ trang;

b. Bị ốm hoặc tai nạn phải điều trị thời gian dài, nhưng phải có giấy xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

c. Vì nhu cầu cá nhân. Trường hợp này, sinh viên phải học ít nhất một học kỳ ở Trường, không rơi vào các trường hợp bị buộc thôi học quy định tại Điều 16 của Quy định này và phải đạt điểm trung bình chung tích lũy không dưới 2,00. Thời gian nghỉ học tạm thời vì nhu cầu cá nhân phải được tính vào thời gian học chính thức quy định tại khoản 1, 2 Điều 6 của Quy định này.

2. Sinh viên xin nghỉ học tạm thời vào thời gian thi, phòng Công tác học sinh – sinh viên phối hợp với Phòng Đào tạo đế xử lý dữ liệu trước khi ra quyết định.

3. Sinh viên nghỉ học tạm thời, khi muốn trở lại học tiếp tại Trường, phải viết đơn xin học tiếp, ít nhất một tuần trước khi bắt đầu học kỳ mới.

4. Phòng Công tác học sinh - sinh viên tiếp nhận đơn của sinh viên xin nghỉ học tạm thời, xin trở lại Trường học tiếp, trình Hiệu trưởng xem xét, quyết định và gửi quyết định cho Phòng Đào tạo và khoa quản lý ngành đào tạo để phối hợp quản lý. Sinh viên của khoá học nào sau thời gian nghỉ học tạm thời trở lại Trường học tập, tiếp tục được quản lý theo hồ sơ sinh viên của khoá học đó.

Điều 16. Cảnh báo học tập, buộc thôi học

Hàng năm, Trường tiến hành xử lý kết quả học tập sau học kỳ 1 và sau học kỳ hè. Có các hình thức xử lý sau:

1. Cảnh báo học tập: Cảnh báo học tập nhằm giúp cho sinh viên có kết quả học tập kém biết và lập phương án học tập thích hợp để có thể tốt nghiệp trong thời hạn tối đa được phép theo học chương trình. Tại thời điểm tiến hành xử lý kết quả học tập của một học kỳ, sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập nếu vi phạm đồng thời 2 trong 3 điều kiện sau:

a) Điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 1,20 đối với sinh viên năm thứ nhất, dưới 1,40 đối với sinh viên năm thứ hai, dưới 1,60 đối với sinh viên năm thứ ba hoặc dưới 1,80 đối với sinh viên các năm tiếp theo và cuối khoá;

b) Điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,80 đối với học kỳ đầu của khóa học, dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo;

c) Tổng số tín chỉ của các học phần bị điểm F còn tồn đọng tính từ đầu khoá học đến thời điểm xét vượt quá 24 tín chỉ.

Quy định cảnh báo học tập không thay đổi trong toán khoá học.

2. Buộc thôi học: Sau mỗi lần xử lý kết quả học tập, sinh viên bị buộc thôi học nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Hai lần liên tiếp hoặc bốn lần không liên tiếp bị cảnh báo kết quả học tập;

b) Vượt quá thời gian tối đa được phép học tại trường quy định tại khoản 1 Điều 6 của Quy định này;

c) Bị kỷ luật lần thứ hai vì lý do đi thi hộ hoặc nhờ người thi hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 30 của Quy chế này hoặc bị kỷ luật ở mức xoá tên khỏi danh sách sinh viên của trường.

3. Chậm nhất là một tháng sau khi sinh viên có quyết định buộc thôi học, Trường phải thông báo trả về địa phương nơi sinh viên có hộ khẩu thường trú. Trường hợp tại Trường hoặc tại trường khác có các chương trình đào tạo ở trình độ thấp hơn hoặc chương trình giáo dục thường xuyên tương ứng, thì những sinh viên thuộc diện bị buộc thôi học quy định tại các điểm a, b khoản 2 của Điều này được quyền xin xét chuyển qua các chương trình đó và được bảo lưu một phần kết quả học tập ở chương trình cũ. Hiệu trưởng sẽ xem xét quyết định cho bảo lưu kết quả học tập đối với từng trường hợp cụ thể.

Điều 17. Học cùng lúc hai chương trình

1. Học cùng lúc hai chương trình dành cho sinh viên có đủ điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này và có nhu cầu đăng ký học thêm một chương trình thứ hai tại Trường Đại học Sư phạm hoặc ở đơn vị đào tạo khác thuộc Đại học Thái Nguyên để khi tốt nghiệp được cấp hai văn bằng.

2. Điều kiện để học cùng lúc hai chương trình:

a) Chương trình thứ hai phải thuộc ngành đào tạo khác so với chương trình thứ nhất;

b) Sau khi đã kết thúc học kỳ thứ nhất năm học đầu tiên của chương trình thứ nhất và sinh viên không thuộc diện xếp hạng học lực yếu;

c) Trong quá trình sinh viên học cùng lúc hai chương trình, nếu điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 2,00 thì phải dừng học thêm chương trình thứ hai ở học kỳ tiếp theo.

3. Thời gian tối đa được phép học đối với sinh viên học cùng lúc hai chương trình là thời gian tối đa quy định cho chương trình thứ nhất, quy định tại khoản 1, 2 Điều 6 của Quy định này. Khi học chương trình thứ hai, sinh viên được bảo lưu điểm của những học phần có nội dung và khối lượng kiến thức tương đương có trong chương trình thứ nhất. Sinh viên làm đơn xin được bảo lưu; Trưởng khoa quản lý chương trình đào tạo thứ hai xác nhận; Phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng ra quyết định.

4. Sinh viên chỉ được xét tốt nghiệp chương trình thứ hai, nếu có đủ điều kiện tốt nghiệp ở chương trình thứ nhất.

5. Hệ thống tín chỉ cho phép sinh viên đăng ký học và tích lũy đồng thời các học phần của ngành thứ nhất và các học phần của các ngành khác (trừ học phần đồ án tốt nghiệp hay khóa luận tốt nghiệp). Sinh viên cũng có thể học các học phần của ngành thứ hai sau khi đã nhận bằng tốt nghiệp ngành thứ nhất (nếu còn thời gian học). Tất cả các học phần mà sinh viên đã học đều được ghi vào bảng điểm. Tuy nhiên, việc xếp hạng tốt nghiệp chỉ căn cứ vào các học phần có trong chương trình đào tạo của từng ngành.

6. Sinh viên muốn học chương trình thứ hai phải viết đơn gửi cho Phòng Đào tạo để báo cáo Giám đốc Đại học Thái Nguyên phê duyệt. Sinh viên tự nguyện đóng học phí trong trường hợp không có ngân sách Nhà nước cấp theo quy định học phí tín chỉ ở khoản 6 Điều 3 của Quy định này.

Điều 18. Chuyển trường

 1. Sinh viên được xét chuyển trường nếu có các điều kiện sau đây:

a. Trong thời gian học tập, nếu gia đình chuyển nơi cư trú hoặc sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, cần thiết phải chuyển đến trường gần nơi cư trú của gia đình để thuận lợi trong học tập;

b. Xin chuyển đến trường có cùng ngành hoặc thuộc cùng nhóm ngành với ngành đào tạo mà sinh viên đang học;

c. Được sự đồng ý của Hiệu trưởng trường xin chuyển đi và trường xin chuyển đến;

d. Không thuộc một trong các trường hợp không được phép chuyển trường quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Sinh viên không được phép chuyển trường trong các trường hợp sau:

a. Sinh viên đã tham dự kỳ thi tuyển sinh theo đề thi chung, nhưng không trúng tuyển vào trường hoặc có kết quả thi thấp hơn điểm trúng tuyển của trường xin chuyển đến;

b. Sinh viên thuộc diện nằm ngoài vùng tuyển sinh quy định của trường xin chuyển đến;

c. Sinh viên năm thứ nhất và năm cuối khóa;

d. Sinh viên đang trong thời gian bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên.

3. Thủ tục chuyển trường:

a. Sinh viên xin chuyển trường phải làm hồ sơ xin chuyển trường bao gồm: Đơn xin chuyển trường (trong đơn có đầy đủ thông tin về kết quả thi tuyển sinh, có đầy đủ ý kiến của trường chuyển đi và ý kiến của trường tiếp nhận); bảng ghi đầy đủ kết quả học tập. Khi đến nhập học chính thức phải có đầy đủ hồ sơ nhập học theo quy định tuyển sinh của Bộ Giáo dục và Đào tạo và hồ sơ chuyển trường. Sinh viên thuộc khoá tuyển sinh nào, khi chuyển đến trường sẽ quản lý hồ sơ và chương trình đào tạo theo khoá tuyển sinh đó của Trường.

b. Hiệu trưởng quyết định tiếp nhận hoặc không tiếp nhận; quyết định việc học tập tiếp tục của sinh viên, công nhận các học phần mà sinh viên chuyển đến được chuyển đổi kết quả và số học phần phải học bổ sung, trên cơ sở so sánh chương trình ở trường sinh viên xin chuyển đi và trường xin chuyển đến.

Chương 3

KIỂM TRA VÀ THI HỌC PHẦN

Điều 19.  Đánh giá học phần

1. Đối với các học phần chỉ có lý thuyết hoặc có cả lý thuyết và thực hành:

a. Tùy theo tính chất của học phần, điểm tổng hợp đánh giá học phần (sau đây gọi tắt là điểm học phần) được tính căn cứ vào một phần hoặc tất cả các điểm đánh giá bộ phận, bao gồm: điểm kiểm tra thường xuyên trong qúa trình học tập; điểm đánh giá nhận thức và thái độ tham gia thảo luận; điểm đánh giá phần thực hành; điểm chuyên cần; điểm thi giữa học phần (nếu có); điểm tiểu luận và điểm thi kết thúc học phần, trong đó điểm thi kết thúc học phần là bắt buộc cho mọi trường hợp và có trọng số không dưới 50%. Căn cứ trọng số của từng loại điểm, điểm học phần là điểm trung bình cộng theo trọng số, làm tròn đến 1 chữ số thập phân.

 b. Việc lựa chọn các hình thức đánh giá bộ phận do khoa quản lý nội dung đề xuất, Phòng Đào tạo trình Hiệu trưởng phê duyệt và phải được quy định trong đề cương chi tiết của học phần.

c. Số điểm kiểm tra thường xuyên của mỗi học phần quy định như sau: học phần 2 tín chỉ: 1 điểm kiểm tra; học phần 3 - 4 tín chỉ: 2 điểm kiểm tra; học phần từ 5 tín chỉ trở lên: 3 điểm kiểm tra. Những trường hợp đặc biệt do Hiệu trưởng quy định.

2. Đối với các học phần thực hành, thí nghiệm: không tổ chức thi kết thúc học phần, sinh viên phải tham dự đầy đủ các bài thực hành, thí nghiệm. Điểm trung bình cộng của các bài thực hành trong học kỳ được làm tròn đến một chữ số thập phân là điểm của học phần.

3.  Đối với các học phần thực tập sư phạm điểm đánh giá học phần được quy định trong Quy chế thực tập sư phạm, ban hành theo quyết định số 2158/QĐ-ĐHSP, ngày 10/10/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm.

Điều 20.  Tổ chức và quản lý các điểm bộ phận

1. Khoa quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức và quản lý các điểm đánh giá bộ phận trong quá trình học tập của sinh viên theo đề cương chi tiết môn học của chương trình đào tạo.

2. Giảng viên chịu trách nhiệm ra đề kiểm tra, tổ chức công tác kiểm tra, thực hiện công tác đánh giá các điểm bộ phận của sinh viên thuộc lớp môn học theo quy định trong đề cương chi tiết môn học, báo cáo Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo kết quả điểm bộ phận quá trình học tập của sinh viên và thông báo cho sinh viên trước khi kết thúc thời gian lên lớp. Trường hợp môn học có nhiều giảng viên cùng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo cử giảng viên chịu trách nhiệm tổng hợp tất cả kết quả điểm bộ phận trong  quá trình học tập của sinh viên.

3. Các bài kiểm tra trong quá trình học tập được giảng viên trả lại cho sinh viên. Sinh viên chịu trách nhiệm giữ bài kiểm tra và kết quả để có thể khiếu nại về điểm khi cần thiết.

4. Danh sách ghi điểm thành phần được Phòng Đào tạo in và gửi cho các đơn vị quản lý nội dung đào tạo vào đầu tuần thứ 4 của học kỳ chính, đầu tuần thứ 3 của học kỳ phụ (sau khi ổn định kết quả sinh viên đăng ký khối lượng học tập).

5. Bảng điểm bộ phận môn học đánh giá quá trình học tập của sinh viên có chữ kí của giảng viên và trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo được làm thành 3 bản, bản chính gửi cho Phòng Đào tạo trước kỳ thi học kì, một bản lưu tại khoa quản lý nội dung đào tạo, giảng viên lưu một bản. 

6. Khoa quản lý nội dung đào tạo phải nhập xong điểm bộ phận của học phần vào phần mềm quản lý đào tạo trong tuần đầu của kỳ thi và đảm bảo trước khi thi học phần.

7. Kết quả các điểm bộ phận chỉ có giá trị trong mỗi lần học và được sử dụng để cùng điểm thi kết thúc học phần trong lần học đó xác định điểm học phần của sinh viên.

Điều 21. Tổ chức kỳ thi kết thúc học phần

1. Cuối mỗi học kỳ, Trường tổ chức một kỳ thi để kết thi thúc học phần; không tổ chức thi lại. Những sinh viên có điểm học phần là điểm F hoặc có nhu cầu cải thiện điểm đều phải đăng ký học lại theo Điều 12 của Quy định này.

2. Thời gian dành cho ôn thi mỗi học phần tỷ lệ thuận với số tín chỉ của học phần đó, ít nhất là 2/3 ngày cho một tín chỉ.

3. Phòng Đào tạo xây dựng kế hoạch thi kết thúc học phần theo kết quả đăng ký khối lượng học tập của sinh viên, công bố cho sinh viên ít nhất 2 tuần trước khi bắt đầu thi.

4. Điều kiện để sinh viên được dự thi kết thúc học phần:

a. Sinh viên phải đảm bảo tối thiểu 80% số giờ lên lớp của học phần kể cả lý thuyết và thảo luận mới được dự thi kết thúc học phần.

b. Danh sách sinh viên bị đình chỉ thi học phần do giảng viên trực tiếp đề nghị có xác nhận của trưởng bộ môn và phải gửi tới khoa quản lý nội dung đào tạo trước ngày thi kết thúc học phần ít nhất 5 ngày, trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo có trách nhiệm duyệt danh sách đình chỉ thi và chuyển cho Phòng Đào tạo.

5. Lịch thi cá nhân của mỗi sinh viên (trong tài khoản cá nhân) được Phòng Đào tạo thông báo sau khi lịch thi chung chính thức được công bố.

6. Danh sách thi do Phòng Đào tạo in, chuyển cho các khoa quản lý nội dung đào tạo.

7. Trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo chịu trách nhiệm tổ chức thi:

a. Cử cán bộ nhận đề thi từ Phòng Thanh tra – Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục (nếu đề thi rút từ ngân hàng đề) hoặc tổ chức ra đề thi; giao đề thi cho cán bộ coi thi.

b. Cử cán bộ coi thi theo yêu cầu của phòng Đào tạo bảo đảm mỗi phòng thi có 2 cán bộ coi thi trong đó ít nhất một cán bộ coi thi là cán bộ giảng dạy. Cán bộ coi thi phải có trình độ đại học (những trường hợp đặc biệt phải được Hiệu trưởng phê duyệt danh sách trước khi thực hiện).

c. Tổ chức giao, nhận và quản lý bài thi từ khi kết thúc buổi thi đến khi chấm thi xong và ghi điểm vào bảng điểm.

 

Điều 22. Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần

1. Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy định trong chương trình. Đề thi chủ yếu được Ban đề thi xây dựng từ ngân hàng đề thi, các trường hợp đặc biệt do Ban đề thi chịu trách nhiệm quyết định đảm bảo yêu cầu bảo mật và khách quan của đề thi.

2. Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết tự luận, vấn đáp hoặc thực hành do khoa quản lý nội dung đào tạo quyết định, giảng viên thông báo cho sinh viên vào thời gian lên lớp đầu học kì. Các hình thức khác như viết tiểu luận, làm bài tập lớn, trắc nghiệm khách quan do khoa quản lý nội dung đào tạo đề nghị, Hiệu trưởng xem xét quyết định, giảng viên thông báo cho sinh viên.

3. Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểu luận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm. Bài thi sau khi chấm được khoa quản lý nội dung bảo quản và lưu giữ trong 2 năm. Khi hủy bài thi phải có biên bản theo dõi.

4. Thi vấn đáp kết thúc học phần phải do hai giảng viên thực hiện. Trong trường hợp hai giảng viên chấm thi không thống nhất được điểm chấm thì các giảng viên chấm thi trình trưởng bộ môn xem xét quyết định. Điểm thi vấn đáp được giảng viên công bố công khai sau mỗi buổi thi.

5. Các điểm thi kết thúc học phần, và điểm học phần phải được ghi vào bảng điểm theo mẫu thống nhất của Trường có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi, trưởng khoa ký xác nhận (bảng điểm gốc) và phô tô thêm 02 bản. Bản gốc gửi về Phòng Đào tạo trong vòng một tuần sau khi kết thúc kỳ thi học phần, một bản lưu tại văn phòng khoa, một bản gửi cho lớp trưởng lớp học phần để thông báo cho sinh viên.

6. Trong vòng một tuần sau khi kết thúc kỳ thi, các đơn vị quản lý nội dung đào tạo phải nhập điểm vào hệ thống quản lý điểm; Sau khi xử lý, điểm của mỗi sinh viên sẽ được chuyển vào tài khoản cá nhân. Sau mỗi học kỳ chính, Phòng Đào tạo in bảng điểm tổng hợp theo lớp sinh viên; một bản lưu ở Phòng Đào tạo, một bản chuyển cho các khoa quản lý ngành lưu giữ. Trưởng khoa quản lý ngành chịu trách nhiệm quản lý tài liệu này vĩnh viễn ở khoa.

7. Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý do chính đáng coi như bỏ thi và phải nhận điểm không.

8. Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng (có đơn xin hoãn thi được chấp nhận) sẽ không bị đánh giá điểm không, không phải học lại, được bảo lưu các điểm thành phần và được đăng ký thi vào những kỳ thi tiếp sau.

9. Sinh viên muốn hoãn thi phải làm đơn, được trưởng khoa quản lý chương trình đào tạo xác nhận trước giờ thi, chuyển cho khoa quản lý nội dung đào tạo và Phòng Đào tạo để xử lý. Khi đến kỳ thi (trước kỳ thi ít nhất 2 tuần), sinh viên phải có đơn xin thi kèm với đơn xin hoãn thi (đã được chấp nhận), gửi cho Phòng Đào tạo để in danh sách thi.

Điều 23. Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần

          1. Điểm đánh giá bộ phận và điểm thi kết thúc học phần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến một chữ số thập phân.

2. Điểm học phần là điểm trung bình cộng (theo trọng số) của điểm bộ phận và điểm thi kết thúc học phần theo quy định cách đánh giá của đề cương môn học. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:

a. Loại đạt:                    A (8,5 - 10)          Giỏi

                                      B (7,0 - 8,4)           Khá

                                      C (5,5 - 6,9)          Trung bình

                                      D (4,0 - 5,4)         Trung bình yếu.

b. Loại không đạt:          F (dưới 4,0)         Kém

c. Đối với những học phần chưa đủ cơ sở đánh giá để có điểm học phần, khi xếp mức đánh giá  theo kiểu chữ được sử dụng các kí hiệu sau:

                                      I       Chưa đủ dữ liệu đánh giá.

                                     X       Chưa nhận được kết quả thi.

d. Đối với những học phần được nhà trường cho phép chuyển điểm, khi xếp mức đánh giá được sử dụng kí hiệu R viết kèm với kết quả.

3. Việc xếp loại các mức điểm A, B, C, D, F được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a. Đối với những học phần mà sinh viên đã có đủ điểm đánh giá bộ phận, kể cả trường hợp bỏ học, bỏ kiểm tra hoặc bỏ thi không có lý do phải nhận điểm 0;

b. Chuyển đổi từ mức điểm I qua, sau khi đã có các kết quả đánh giá bộ phận mà trước đó sinh viên được giảng viên cho phép nợ;

c. Chuyển đổi từ các trường hợp X qua.

4. Việc xếp loại ở mức điểm F ngoài những trường hợp như đã nêu ở khoản 3 Điều này, còn áp dụng cho trường hợp sinh viên vi phạm quy chế thi, có quyết định phải nhận mức điểm F.

5. Việc xếp loại theo mức điểm I được áp dụng cho các trường hợp sau đây:

a. Trong thời gian học hoặc trong thời gian thi kết thúc học kỳ, sinh viên bị ốm hoặc tai nạn không thể dự kiểm tra hoặc thi, nhưng phải được khoa quản lý nội dung đào tạo, phòng Đào tạo cho phép;

b. Sinh viên không thể dự kiểm tra bộ phận hoặc thi vì những lý do khách quan, được trưởng khoa quản lý nội dung đào tạo, phòng Đào tạo chấp thuận.

6. Việc xếp loại theo mức điểm X được áp dụng đối với những học phần mà Phòng Đào tạo chưa nhận được báo cáo kết quả trong quá trình học tập của sinh viên từ khoa chuyển lên.

7. Ký hiệu R được áp dụng cho các trường hợp sau:

a. Điểm học phần được đánh giá ở các mức điểm A, B, C, D trong đợt đánh giá đầu học kỳ (nếu có) đối với một số học phần được phép thi sớm để giúp sinh viên học vượt.

b. Những học phần được công nhận kết quả, khi sinh viên chuyển từ trường khác đến hoặc chuyển đổi giữa các chương trình.

Điều 24. Phúc khảo

1. Sinh viên chưa thoả mãn về kết quả học tập điểm bộ phận có quyền khiếu nại với giảng viên ngay sau khi nghe giảng viên công bố kết quả vào thời điểm kết thúc thời gian học tập. Giảng viên là người chịu trách nhiệm báo cáo Trưởng khoa giải quyết những khiếu nại của sinh viên về điểm bộ phận trước khi gửi kết quả cho Phòng Đào tạo. Trường không nhận và giải quyết những khiếu nại của sinh viên về điểm bộ phận của môn học.           

2. Sinh viên chưa thoả mãn về kết quả điểm thi học phần của bản thân có quyền viết đơn đề nghị phúc khảo lại điểm thi. Đơn phúc khảo điểm thi học phần gửi cho đơn vị quản lý nội dung đào tạo chậm nhất 1 tuần sau khi thông báo điểm thi. Mỗi điểm thi học phần, khi viết đơn phúc khảo sinh viên phải nộp lệ phí phúc khảo theo quy định. Nếu điểm thi được thay đổi sinh viên sẽ được hoàn lại lệ phí.

3. Đơn vị quản lý nội dung đào tạo tổ chức chấm phúc khảo vận dụng quy định phúc khảo của quy chế tuyển sinh và thông báo kết quả cho sinh viên chậm nhất 01 tuần sau khi hết thời hạn nhận đơn phúc khảo.

4. Nếu phúc khảo có sự thay đổi điểm của bài thi, các đơn vị quản lý nội dung đào tạo gửi về Phòng Đào tạo bản photo các giấy tờ sau: đơn của sinh viên, biên bản chấm phúc khảo, đề thi, đáp án, bài thi; Phòng Đào tạo kiểm tra trình Hiệu trưởng xem xét, kết luận. Phòng Đào tạo sửa kết quả thi của sinh viên trong hệ thống quản lý theo kết luận.

5. Khi phát hiện có bất cứ sự khác biệt nào giữa bảng ghi điểm đã công bố và điểm được nhập, lưu trữ trong hệ thống quản lý đào tạo của Trường, sinh viên có trách nhiệm gửi đơn yêu cầu Phòng Đào tạo kiểm tra lại kết quả.

6. Những giảng viên và cán bộ có nhiều sai sót trong việc chấm thi, nhập điểm... sẽ được lập danh sách đưa vào nội dung xét thi đua hàng năm.

Điều 25. Cách tính điểm trung bình chung

1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi qua điểm số như sau:

A       tương ứng với       4

B       tương ứng với       3

C       tương ứng với       2

D       tương ứng với       1

F       tương ứng với       0

  2. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy được tính theo công thức sau và được làm tròn đến 2 chữ số thập phân:     

                                     

          Trong đó:

          A là điểm trung bình chung học kỳ hoặc điểm trung bình chung tích lũy

          ai  là điểm của học phần thứ i

          ni  là số tín chỉ của học phần thứ i

          n  là tổng số học phần.

a. Điểm trung bình chung học kỳ để xét học bổng, khen thưởng sau mỗi học kỳ chỉ tính theo điểm các học phần đăng kí học tập trong học kì ở lần đăng kí học và thi thứ nhất.

b. Điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy để xét thôi học, xếp hạng học lực sinh viên và xếp hạng tốt nghiệp được tính theo điểm  học phần cao nhất trong các lần học và thi.

Chương 4

XÉT VÀ CÔNG NHẬN TỐT NGHIỆP

Điều 26. Khoá luận tốt nghiệp

1. Đầu năm học cuối của khoá học, sinh viên được đăng ký làm khoá luận tốt nghiệp.

a. Khóa luận tốt nghiệp đại học có khối lượng kiến thức tương đương 7 tín chỉ.

b. Điều kiện đăng ký làm khóa luận: Sinh viên có điểm trung bình chung tích lũy từ 2,5 trở lên (tính đến thời điểm xét điều kiện làm khóa luận tốt nghiệp).

c. Trước khi xét danh sách sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp, các khoa quản lý ngành in bảng điểm từ phần mềm quản lý đào tạo; xét nguyện vọng của sinh viên và khả năng hướng dẫn của giảng viên; lập danh sách sinh viên có đủ điều kiện làm luận văn chuyển cho Phòng Đào tạo; Phòng Đào tạo tập hợp danh sách đề nghị Hiệu trưởng quyết định phù hợp với điều kiện thực tế của Trường.

 2. Số lượng khoá luận được hướng dẫn:

a. Cán bộ giảng dạy có chức danh Giáo sư hướng dẫn không quá 5 khoá luận tốt nghiệp; 

b. Các cán bộ giảng dạy có chức danh Phó Giáo sư, Giảng viên chính, hoặc có học vị Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học được được hướng dẫn không quá 3 khoá luận tốt nghiệp;

c. Cán bộ giảng dạy có chức danh giảng viên hướng dẫn không quá 2 khoá luận tốt nghiệp. 

3. Đánh giá khoá luận tốt nghiệp

Đầu mỗi năm học, Hiệu trưởng căn cứ vào thực tế quyết định một trong hai hình thức đánh giá khoá luận tốt nghiệp sau.

a. Chấm khoá luận tốt nghiệp: mỗi khoá luận tốt nghiệp có 2 giảng viên chấm độc lập, điểm của khoá luận là điểm trung bình cộng của 2 giảng viên chấm theo thang điểm 10 làm tròn đến 1 chữ số thập phân.

b. Hội đồng chấm khoá luận tốt nghiệp: mỗi khoá luận tốt nghiệp được đánh giá bởi một Hội đồng gồm 5 thành viên (trong đó có 2 phản biện).  Điểm của khoá luận tốt nghiệp là điểm trung bình cộng của điểm đánh giá tất cả các thành viên Hội đồng theo thang điểm 10, làm tròn đến 1 chữ số thập phân và được công bố ngay sau buổi bảo vệ.

4. Điểm khoá luận tốt nghiệp được tính vào điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học.

5. Sinh viên có khoá luận tốt nghiệp không được chấm hoặc bị điểm F, phải đăng ký học thêm một số học phần chuyên môn như những sinh viên không làm khoá luận tốt nghiệp.

6. Học phần thay thế khoá luận tốt nghiệp: sinh viên không được giao làm khoá luận tốt nghiệp phải đăng ký học một số học phần thay thế theo quy định của chương trình đào tạo với khối lượng kiến thức tương đương 7 tín chỉ.

Điều 27. Thực tập sư phạm

1. Trong chương trình đào tạo của Trường có 2 học phần thực tập sư phạm: Thực tập sư phạm 1 và Thực tập sư phạm 2.

2. Thực tập sư phạm là những nội dung đào tạo nghề nghiệp bắt buộc. Sinh viên được đăng kí học tập như những học phần khác, đảm bảo các quy định về điều kiện tiên quyết, điều kiện học trước của chương trình đào tạo.

3. Thực tập sư phạm thực hiện theo Quy chế thực tập sư phạm, ban hành theo quyết định số 2158/QĐ-ĐHSP, ngày 10/10/2011 của Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm.

Điều 28. Điều kiện xét tốt nghiệp và công nhận tốt nghiệp

1. Sinh viên được Trường xét và công nhận tốt nghiệp khi có đủ các điều kiện sau:

a) Cho đến thời điểm xét tốt nghiệp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không đang trong thời gian bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập;

b) Tích lũy đủ số học phần và khối lượng của chương trình đào tạo được quy định tại Điều 2 của Quy định này;

c) Điểm trung bình chung tích lũy của toàn khóa học đạt từ 2,00 trở lên;

d) Thỏa mãn yêu cầu về kết quả học tập đối với nhóm học phần thuộc chương trình đào tạo và các điều kiện khác do Hiệu trưởng quy định;

đ) Có chứng chỉ giáo dục quốc phòng – an ninh đối với các ngành đào tạo không chuyên về quân sự và hoàn thành học phần giáo dục thể chất đối với các ngành không chuyên về thể dục - thể thao;

2. Sau mỗi học kỳ, tất cả các sinh viên có đủ điều kiện tốt nghiệp sớm hơn hoặc quá thời hạn học tập 4 năm ở Trường phải làm đơn gửi Phòng Đào tạo để xin xét tốt nghiệp (theo mẫu). Những sinh viên kết thúc khoá học đúng thời hạn không phải làm đơn xin xét công nhận tốt nghiệp.

3. Hội đồng xét tốt nghiệp của Trường do Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng uỷ quyền làm Chủ tịch, Trưởng Phòng Đào tạo làm Thư ký và các thành viên là các Trưởng Khoa quản lý chương trình đào tạo, Trưởng Phòng Công tác học sinh - sinh viên.

4. Hội đồng xét tốt nghiệp căn cứ vào các điều kiện công nhận tốt nghiệp quy định tại khoản 1 Điều này để lập danh sách những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

5. Căn cứ đề nghị của Hội đồng xét tốt nghiệp, Hiệu trưởng ký quyết định công nhận tốt nghiệp cho những sinh viên đủ điều kiện tốt nghiệp.

Điều 29. Cấp bằng tốt nghiệp, bảo lưu kết quả học tập, chuyển chương trình đào tạo  và chuyển loại hình đào tạo           

1. Bằng tốt nghiệp đại học được cấp theo ngành đào tạo. Hạng tốt nghiệp được xác định theo điểm trung bình chung tích lũy của toàn khoá học, như sau:

a. Loại xuất sắc:     Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,60 đến 4,00;

b. Loại giỏi:            Điểm trung bình chung tích lũy từ 3,20 đến 3,59;

c. Loại khá:             Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,50 đến 3,19;

d. Loại trung bình:   Điểm trung bình chung tích lũy từ 2,00 đến 2,49.

2. Hạng tốt nghiệp của những sinh viên có kết quả học tập toàn khoá loại xuất sắc và giỏi sẽ bị giảm đi một mức, nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Có khối lượng của các học phần phải học lại vượt quá 5% so với tổng số tín chỉ quy định cho toàn chương trình;

b. Đã bị kỷ luật từ mức cảnh cáo trở lên trong thời gian học.

3. Kết quả học tập của sinh viên  được ghi vào bảng điểm theo từng học phần và được cấp cho sinh viên kèm theo bằng tốt nghiệp, kể cả các kết quả học tập những nội dung đào tạo sinh viên tích luỹ thêm ngoài quy định tối thiểu được cấp bằng tốt nghiệp.

4. Nếu kết quả học tập của sinh viên thỏa mãn những quy định tại khoản 1 Điều 28 của Quy định này đối với một số chương trình đào tạo tương ứng với các ngành đào tạo khác nhau, thì sinh viên được cấp các bằng tốt nghiệp khác nhau tương ứng với các ngành đào tạo đó.    

5. Sinh viên còn nợ chứng chỉ giáo dục quốc phòng và chứng chỉ giáo dục thể chất, nhưng đã hết thời gian tối đa được phép học, trong thời hạn 5 năm tính từ ngày phải ngừng học, được trở về Trường trả nợ để có đủ điều kiện xét tốt nghiệp.

6. Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận về các học phần đã học trong chương trình của Trường. Những sinh viên này nếu có nguyện vọng, được quyền làm đơn xin chuyển qua các chương trình khác theo quy định tại khoản 3 Điều 16 của Quy định này.  

Chương 5

XỬ LÝ VI PHẠM

Điều 30. Xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm các quy định về thi, kiểm tra

          1. Trong khi dự kiểm tra thường xuyên, chuẩn bị tiểu luận, bài tập lớn, thi giữa học phần, thi kết thúc học phần, chuẩn bị đồ án, khoá luận tốt nghiệp, nếu vi phạm quy chế, sinh viên sẽ bị xử lý kỷ luật với từng học phần đã vi phạm.

          2. Sinh viên đi thi hộ hoặc nhờ người khác thi hộ, đều bị kỷ luật ở mức đình chỉ học tập một năm học đối với trường hợp vi phạm lần thứ nhất và buộc thôi học đối với trường hợp vi phạm lần thứ hai.

           3. Trừ trường hợp như quy định tại khoản 2 của Điều này, mức độ sai phạm và khung xử lý kỷ luật đối với sinh viên vi phạm được thực hiện theo các quy định của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy. 

 

                        HIỆU TRƯỞNG

 

 

 

 

  

                       PGS.TS Phạm Hồng Quang

 

Giới thiệu Khoa GD Mầm non

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON   I. ĐỊA CHỈ ĐƠN VỊ Địa chỉ: Phòng  313 - Nhà A4 -Trường Đại học Sư phạm, số 20 - Đường Lương Ngọc Quyến, Thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Điện thoại: 02083 653941    Email: khoamamnon@dhsptn.edu.vn ...

[ Xem thêm chi tiết ]

Giới thiệu Khoa Vật Lí

  KHOA VẬT LÝ I. Địa chỉ liên hệ Tên khoa: Khoa Vật lý Địa chỉ: Số 20, đường Lương Ngọc Quyến, thành phố Thái Nguyên. Điện thoại: 02083856893 Email: khoaly@dhsptn.edu.vn Website: http://www.dhsptn.edu.vn/khoavatli II. Quá trình hình thành và phát triển...

[ Xem thêm chi tiết ]

Năng lực đội ngũ
VNC

Giới thiệu Khoa Vật Lí

  KHOA VẬT LÝ I. Địa chỉ liên hệ Tên khoa: Khoa Vật lý Địa chỉ: Số 20, đường Lương Ngọc Quyến, thành phố Thái Nguyên. Điện thoại: 02083856893 Email: khoaly@dhsptn.edu.vn Website: http://www.dhsptn.edu.vn/khoavatli II. Quá trình hình thành và phát triển...

[ Xem thêm chi tiết ]

Giới thiệu Phòng Đào tạo

PHÒNG ĐÀO TẠO I. Thông tin chung Tên phòng: Phòng Đào tạo Địa chỉ văn phòng: Khu Hiệu bộ Trường Đại học Sư phạm ĐT: 0208.3653.559                Email: phongdaotao@dhsptn.edu.vn...

[ Xem thêm chi tiết ]